Elliott cho rằng hành vi và tâm lý của con người lặp lại theo những dạng sóng nhất định dựa trên các quy luật tự nhiên; và nếu phân tích các mẫu hình này thì có thể dự đoán hành vi trong tương lai. Ông tin rằng hành vi/tâm lý của con người được phản ánh lên biểu đồ giá cổ phiếu và sau khi nghiên cứu rất nhiều biểu đồ, ông phát hiện rằng biểu đồ thường chuyển động theo các mẫu hình chung. Ví dụ như tỷ lệ độ dài giữa các sóng được cấu thành theo tỷ lệ dãy Fibonacci, hoặc số lượng sóng tạo nên một chu kỳ gồm 8 sóng, v.v.
Sóng Elliott về cơ bản gồm tổng cộng 8 sóng: 5 sóng tăng và 3 sóng giảm. Ngay ở đây cũng có thể thấy các con số Fibonacci (3, 5, 8).
|
① Trong thị trường tăng, sóng tăng được gọi là sóng xung lực (Impulse Wave) |
|
② slow %D = trung bình slow %K trong t ngày |
|
③ Trong thị trường giảm, sóng giảm là sóng xung lực |
|
④ Trong thị trường giảm, sóng tăng là sóng điều chỉnh |
Tức là, các sóng cùng hướng với xu hướng thị trường được gọi là sóng xung lực; còn các sóng đi ngược hướng thị trường hoặc đi ngang/đình trệ được gọi là sóng điều chỉnh.
Sóng số 1 được cấu thành từ 5 sóng nhỏ.
Được cấu thành từ 3 sóng con đi xuống từ số 3 đến số 4.
Sóng điều chỉnh ② được cấu thành từ 3 sóng.
Lấy ví dụ theo dãy Fibonacci: trong thị trường tăng, khi sóng 2 diễn ra sau sóng 1, điều đó có nghĩa là khả năng cao sẽ hồi theo tỷ lệ 38,2% hoặc 61,8% so với sóng 1.
① Grand Supercycle: chu kỳ trên 100 năm
② Supercycle: chu kỳ dưới 100 năm
③ Cycle: chu kỳ khoảng 30 năm
④ Primary: chu kỳ khoảng 10 năm
⑤ Intermediate: theo tháng
⑥ Minor: theo tuần
⑦ Minute: theo ngày
⑧ Minuette: theo giờ
⑨ Sub-Minuette: dưới mức giờ
Câu nói “cứ 10 năm lại có suy thoái” có thể được giải thích theo Sóng Elliott rằng chu kỳ Primary xuất hiện định kỳ khoảng mỗi 10 năm. Tuy nhiên, chu kỳ không phải là giá trị tuyệt đối, vì vậy chỉ nên dùng để tham khảo.
Người ta nói rằng việc quan sát sóng điều chỉnh còn khó hơn sóng xung lực. Vì vậy, Elliott nhấn mạnh rằng việc nắm bắt đúng sóng điều chỉnh là quan trọng hơn. Ông chia sóng điều chỉnh thành 3 dạng lớn và những dạng không thuộc các nhóm này được định nghĩa là dạng bất quy tắc.
Không phải mọi sóng điều chỉnh đều có hình dạng giống hệt như hình minh họa. Riêng tam giác có rất nhiều biến thể như tam giác đáy tăng, tam giác đáy phẳng... nên có thể chia nhỏ thành nhiều loại. Ở đây, sóng điều chỉnh thông thường gồm 3 sóng, nhưng với tam giác bạn có thể thấy nó được cấu thành bởi 5 sóng.
Sóng xung lực gồm 5 sóng, nhưng khi xuất hiện các sóng con thì rất khó phân biệt. Sóng kéo dài có thể xuất hiện liên tục gần như vô hạn, và trong trường hợp đó việc áp dụng lý thuyết Sóng Elliott trở nên khó khăn. Một trong những lý do khó nhất là vì rất khó nhận biết chính xác sóng kéo dài và sóng điều chỉnh.
Người ta cho rằng ba quy tắc này không có ngoại lệ. Nếu không thỏa, có thể hiểu rằng bạn đã xác định sai cấu trúc sóng.
Đây thường là sóng ngắn nhất trong 5 sóng tăng. Trong tỷ lệ Fibonacci, lấy tỷ lệ của sóng 1 là 1. Việc xác định sóng tăng 1 gần như là bất khả thi về mặt kỹ thuật và thường không phải là điểm đảo chiều cho một đợt tăng kéo dài.
Là nhịp điều chỉnh của sóng 1. Thường điều chỉnh giảm trong khoảng 38,2% ~ 61,8% và không được phá vỡ đáy của sóng tăng 1.
Là sóng dài nhất. Thông thường tăng theo tỷ lệ 1,618 ~ 2,618. Đồng thời phải dài hơn sóng tăng 1.
Là nhịp điều chỉnh của sóng 3. Không được giảm xuống dưới đỉnh của sóng 1 và thường giảm trong phạm vi tỷ lệ không quá 0,382.
Thường ngắn hơn sóng 3 và tăng theo tỷ lệ 0,618. Đây là giai đoạn có nhiều nhà đầu tư tham gia nhất. Do biến động lớn, đoạn tăng có thể kéo dài nhưng thường không ghi nhận mức tăng mạnh nhất.
Khó xác định đây là nhịp điều chỉnh của sóng tăng 5 hay là bắt đầu của một chu kỳ giảm. Nếu khối lượng tăng lên khi giá giảm, đó có thể là dấu hiệu bắt đầu xu hướng giảm.
Khó xác định đây là nhịp điều chỉnh của sóng tăng 5 hay là bắt đầu của một chu kỳ giảm. Nếu khối lượng tăng lên khi giá giảm, đó có thể là dấu hiệu bắt đầu xu hướng giảm.
Giảm mạnh nhất. Thông thường giảm theo tỷ lệ 1,618 so với sóng giảm 1. Đây cũng có thể là giai đoạn xuất hiện bán tháo (panic selling).
Trên thực tế, lý thuyết Sóng Elliott không có tính ứng dụng quá cao trong phân tích biểu đồ thực chiến. Lý do là hiệu quả có thể thay đổi theo trình độ, nguyên tắc mang tính chủ quan, số trường hợp quá nhiều và cũng khó chứng minh độ chính xác. Tuy vậy, người ta truyền rằng có hơn hàng nghìn nhà đầu tư đã thành công khi vận dụng nguyên lý Elliott. Vì thế, trader cần luyện tập liên tục và nên dùng để học và nắm bắt dòng chảy tổng thể của đầu tư cũng như dòng chảy kinh tế hơn là chỉ dùng cho đầu tư ngắn hạn.